biện pháp chăm sóc trẻ béo phì
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ÔNG THỊ HỒNG PHƯỢNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NI DƯỠNG CHĂM SĨC TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN HÕA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục Mã số : 60.14.01.14 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Đà Nẵng - Năm 2016 Cơng trình hồn thiện
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN TIÊN YIÊNTRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMMột số biện pháp rèn kỹ năng sốngcho học sinh lớp 1A qua môn đạo đứcNgười thực hiện: Nguyễn Thị HuệTổ chuyên môn: Tổ 1Một số biên pháp rèn kỹ năng sốgn cho học sinh lớp 1 A qua môn đạo đứcPHẦN MỞ ĐẦUI-LÝ DO
skkn một số BIỆN PHÁP CHẾ BIẾN các món ăn mới GIÚP TRẺ ăn NGON MIỆNG, ăn hết SUẤT ở TRƯỜNG mầm NON Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.4 MB, 32 trang )
Từ biện pháp giúp xếp mơi trường ngồi lớp giúp trẻ phát cách tốt tạo cho trẻ cảm giác thoải mái, vui tươi từ trẻ cảm thấy thích thú đến trường mầm non Đề tài giúp tơi có nhiều kiến thức cơng tác tạo mơi trường giáo dục trẻ, kích thích trẻ hoạt động động
Trẻ em thừa cân có nguy cơ cao trở thành thanh thiếu niên và người lớn béo phì. Do đó cần phải sớm có kế hoạch chăm sóc trẻ thừa cân béo phì phù hợp theo từng giai đoạn và sự phát triển. 1. Nguyên nhân gây ra bệnh béo phì ở trẻ em Để đưa ra biện pháp chăm sóc trẻ béo phì phù hợp, chúng ta cần phải đánh
Các biện pháp giúp trẻ tăng cường vận động trong chế độ chăm sóc trẻ béo phì. Tạo niềm thích thú của trẻ đối với các hoạt động thể thao. Các bậc cha mẹ cần quan tâm ủng hộ và tạo mọi điều kiện giúp trẻ năng động.
Evay Vay Tiền. Béo phì là trọng lượng tăng quá mức, được định nghĩa là chỉ số khối cơ thể BMI ≥30 kg/m2. Các biến chứng bao gồm rối loạn tim mạch đặc biệt ở những người thừa mỡ bụng, đái tháo đường, một số bệnh ung thư, bệnh sỏi mật, gan nhiễm mỡ, xơ gan, bệnh thoái hóa khớp, rối loạn sinh sản ở nam giới và nữ giới, rối loạn tâm lý, và tử vong sớm đối với người có BMI ≥ 35. Chẩn đoán dựa trên chỉ số khối cơ thể BMI. Điều trị bao gồm thay đổi lối sống ví dụ trong chế độ ăn, hoạt động thể chất và hành vi, và đối với một số bệnh nhân, các loại thuốc hoặc phẫu thuật giảm cân mất cân. Tỷ lệ mắc béo phì ở Mỹ cao ở mọi lứa tuổi xem bảng Điều chỉnh sự thay đổi tỷ lệ béo phì theo NHANES Những thay đổi về tỉ lệ hình thành béo phì theo NHANES . Từ năm 2017-2018, 42,4% số người lớn bị béo phì 1 Tài liệu tham khảo chung Béo phì là trọng lượng tăng quá mức, được định nghĩa là chỉ số khối cơ thể BMI ≥30 kg/m2. Các biến chứng bao gồm rối loạn tim mạch đặc biệt ở những người thừa mỡ bụng, đái tháo... đọc thêm . Tỷ lệ hiện hành thấp nhất ở người lớn gốc Á không phải gốc Tây Ban Nha 17,4% so với người lớn da đen không phải gốc Tây Ban Nha 49,6%, người lớn gốc Tây Ban Nha 44,8% và người lớn da trắng không phải gốc Tây Ban Nha 42,2%. Không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ hiện hành giữa nam và nữ ở người lớn da trắng không phải gốc Tây Ban Nha, người lớn châu Á không phải gốc Tây Ban Nha hoặc gốc Tây Ban Nha; tuy nhiên, tỷ lệ hiện hành ở phụ nữ da đen không phải gốc Tây Ban Nha 56,9% cao hơn tất cả các nhóm khác. Tại Mỹ, béo phì và các biến chứng của nó gây ra ca tử vong sớm mỗi năm, khiến nó là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 có thể phòng tránh được, chỉ đứng sau hút thuốc lá. 1. Hales CM, Carroll MD, Fryar CD, et al Prevalence of obesity and severe obesity among adults United States, 2017–2018. NCHS Data Brief, no 360. Hyattsville, MD National Center for Health Statistics, 2020. Những nguyên nhân của sự béo phì có thể là đa nhân tố và bao gồm khuynh hướng di truyền. Cơ bản, béo phì là kết quả của sự mất cân bằng kéo dài giữa lượng năng đưa vào và năng lượng tiêu hao, bao gồm năng lượng sử dụng cho các quá trình trao đổi chất cơ bản và năng lượng tiêu hao từ hoạt động thể chất. Tuy nhiên, nhiều yếu tố khác dường như làm tăng khuynh hướng mắc béo phì, bao gồm rối loạn nội tiết ví dụ, chất bisphenol A, BPA, vi khuẩn đường ruột, chu kỳ ngủ/thức, và các yếu tố môi trường. Di truyền của BMI là khoảng 66%. Các yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến nhiều tín hiệu phân tử và thụ thể được sử dụng bởi các bộ phận của vùng dưới đồi và đường tiêu hóa để điều chỉnh lượng thực phẩm đưa vào xem thanh bên Các con đường điều chỉnh lượng thực phẩm đưa vào Các con đường điều chỉnh thực phẩm đưa vào . Các yếu tố di truyền có thể được di truyền hoặc là kết quả từ các điều kiện lúc thai nhi được gọi là sự đóng dấu gen. Hiếm khi, béo phì là hậu quả từ mức độ bất thường của peptide điều chỉnh lượng thực phẩm đưa vào ví dụ, leptin hoặc các bất thường trong các thụ thể của chúng ví dụ thụ thể melanocortin-4. Trọng lượng tăng khi lượng calo đưa vào vượt quá nhu cầu năng lượng. Các yếu tố quan trọng xác định năng lượng đưa vào bao gồm Kích thước khẩu phần ănĐộ đậm năng lượng của thực phẩmCác thực phẩm có hàm lượng năng lượng cao ví dụ, các thực phẩm chế biến, các chế độ ăn có lượng carbohydrate tinh chế cao, và sử dụng các đồ uống nhẹ, nước hoa quả, và rượu làm tăng cân. Các chế độ ăn nhiều rau quả tươi, chất xơ, carbohydrate phức hợp, và các chất đạm nạc, với nước là chất lỏng tiêu thụ chính, làm giảm thiểu sự tăng lối sống tĩnh tại góp phần tăng cân. Sự béo phì của mẹ trước khi sinh, mẹ hút thuốc trước khi sinh, và việc hạn chế tăng trưởng trong thai kỳ có thể làm rối loạn điều chỉnh cân nặng và góp phần tăng cân trong thời thơ ấu và sau đó. Béo phì ở thời thơ ấu làm cho việc giảm cân trong cuộc sống sau này khó khăn xúc sớm với chất gây béo phì, một loại hóa chất gây rối loạn nội tiết ví dụ khói thuốc lá, bisphenol A, ô nhiễm không khí, chất chống cháy, phthalates, polychlorination biphenyls có thể làm thay đổi vị trí chuyển hóa thông qua vận động hoặc tăng kích hoạt hạt nhân 2 Các yếu tố điều chỉnh .Khoảng 15% phụ nữ tăng vĩnh viễn ≥ 20 Ib mỗi lần mang không đủ giấc thường được coi là 50%Trong thời gian thanh thiếu niên nếu bố mẹ có béo phì > 80%Ở trẻ em, phòng ngừa tăng cân trong tương lai, thay vì giảm cân, là một mục tiêu hợp lý. Chế độ ăn nên thay đổi, và hoạt động thể lực tăng lên. Tăng các hoạt động chung và vui chơi có khả năng hiệu quả hơn một chương trình tập luyện. Tham gia vào các hoạt động thể chất trong thời thơ ấu có thể thúc đẩy một lối sống năng động suốt đời. Hạn chế các hoạt động tĩnh tại ví dụ, xem TV, sử dụng máy tính hoặc thiết bị cầm tay có thể giúp ích. Các thuốc và phẫu thuật nên tránh nhưng, nếu các biến chứng của béo phì đe dọa tính mạng, có thể rất có biện pháp kiểm soát cân nặng và phòng ngừa béo phì ở trẻ em có thể có các lợi ích lớn nhất cho sức khỏe cộng đồng. Các biện pháp nên được thực hiện trong gia đình, trường học, và các chương trình chăm sóc ban đầu. Ở Mỹ, tỷ lệ người cao tuổi béo phì đang gia tuổi già, mỡ cơ thể tăng và được tái phân bố vào vùng bụng, và khối lượng cơ bị mất, ở mức lớn, bởi vì không hoạt động thể chất, nhưng giảm hormone nam và hormone tăng trưởng được đồng hóa và các cytokines viêm sinh ra khi béo phì có thể đóng một vai cơ của các biến chứng phụ thuộc vào Sự phân bố mỡ cơ thể tăng chủ yếu là mỡ phân bố ở vùng bụngKhoảng thời gian và mức độ nghiêm trọng của béo phìLiên quan thiếu cơ Tăng vòng bụng, đề xuất phân bố mỡ bụng, dự đoán tỉ lệ mắc bệnh ví dụ, tăng huyết áp Tăng huyết áp Tăng huyết áp là tình trạng tăng liên tục của huyết áp tâm thu lúc nghỉ ≥ 130 mmHg hoặc huyết áp tâm trương lúc nghỉ ≥ 80 mm Hg, hoặc cả hai. Tăng huyết áp mà không có nguyên nhân rõ ràng... đọc thêm , đái tháo đường Đái tháo đường DM Đái tháo đường là suy giảm bài tiết insulin và nồng độ kháng insulin ngoại vi thay đổi dẫn đến tăng đường huyết. Triệu chứng sớm liên quan tới tăng glucose máu và bao gồm uống nhiều, khát nhiều... đọc thêm , bệnh động mạch vành Tổng quan bệnh động mạch vành Bệnh động mạch vành CAD bao gồm sự suy giảm lưu lượng máu qua các động mạch vành, thông thường là do các mảng xơ vữa. Biểu hiện lâm sàng bao gồm thiếu máu cơ tim thầm lặng, đau thắt ngực,... đọc thêm và nguy cơ tử vong tốt hơn ở người cao tuổi so với BMI. Với sự già hóa, chất béo có xu hướng tích nhiều hơn trong vùng với người lớn tuổi, bác sĩ có thể khuyến nghị giảm lượng calo nạp vào và tăng hoạt động thể chất. Tuy nhiên, nếu những bệnh nhân lớn tuổi mong muốn giảm đáng kể lượng calo đưa vào, chế độ ăn của họ nên được bác sĩ giám sát. Hoạt động thể chất cũng cải thiện sức mạnh cơ, tính dẻo dai, sức khỏe tổng thể và giảm nguy cơ phát triển các rối loạn mạn tính như đái tháo đường. Hoạt động nên bao gồm các bài tập tăng sức khỏe và tăng sức lượng calo được xem xét đưa vào như thế nào thì dinh dưỡng cũng cần phải được tối ưu hóa. Ngủ tốt và có chất lượng, quản lý căng thẳng và giảm lượng cồn đưa vào cũng rất quan trọng. Béo phì làm tăng nguy cơ gặp nhiều vấn đề sức khoẻ và là nguyên nhân gây ra trường hợp tử vong sớm mỗi năm tại Hoa Kỳ, khiến cho nó chỉ đứng sau hút thuốc về nguyên nhân gây tử vong có thể ngăn ngừa calo đưa vào quá mức và ít hoạt động thể chất góp phần lớn vào sự béo phì, nhưng tính nhạy cảm di truyền và các rối loạn khác nhau bao gồm rối loạn ăn cũng có thể góp lọc những bệnh nhân qua chỉ số BMI và đo chu vi vòng eo và, khi có chỉ định phân tích thành phần cơ thể, bằng cách đo độ dày lớp mỡ dưới da hoặc sử dụng phân tích trở kháng điện sinh lọc những bệnh nhân béo phì cho các rối loạn phổ biến kèm theo, như ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, gan nhiễm mỡ, và trầm viên bệnh nhân giảm thậm chí từ 5 đến 10% trọng lượng cơ thể bằng cách thay đổi chế độ ăn của họ, tăng hoạt động thể lực và sử dụng các can thiệp hành vi nếu có trị thử với orlistat, phentermine, phentermine/topiramate, naltrexone/bupropion, liraglutide hoặc semaglutide nếu BMI ≥ 30 hoặc nếu BMI ≥ 27 và họ có các biến chứng ví dụ tăng huyết áp, kháng insulin; tuy nhiên, với béo phì mức độ nặng, phẫu thuật là hiệu quả viên tất cả bệnh nhân luyện tập, ăn lành mạnh, ngủ đủ giấc, và quản lý căng thẳng.
Một số biện pháp khi chăm sóc trẻ thừa cân béo phì . Đặt vấn đề. Cùng với sự phát triển chung của xã hội, mỗi người chúng ta ngày nay đều có cuộc sống đầy đủ sung túc hơn. Chính vì vậy trẻ em ngày nay được hưởng sự chăm sóc đặc biệt của gia đình và toàn xã hội . nhiều người cho rằng có điều kiện cho con ăn nhiều là cái tốt con mình càng mập mạp, càng bụ bẫm thì càng tốt nên đến khi cha mẹ phát hiện con mình thừa cân quá nhiều thì đã muộn. Trong lúc mức độ báo động và cần thiết quan tâm của xã hội đối với trẻ thừa cân béo phì hiện nay được ưu tiên hàng đầu, song hành với trẻ suy dinh dưỡng thì “ các trường hiện đang phải tự thực hiện chế độ chăm sóc trẻ béo phì theo cách riêng của mình chứ không có một mức chuẩn chung”. Bên cạnh đó các trường phổ thông đều quan niệm nhiệm vụ chính là dạy học, chuyện ăn uống là phụ chỉ cần đủ chất , đủ lượng calo theo độ tuổi là được. Còn tại các trường mầm non vấn đề dinh dưỡng cho học sinh là mục tiêu quan tâm đầu tiên nhưng tình hình vẫn không khá hơn là bao, vì tại đây các cháu được ăn từ 8000đ đến Chế độ này được áp dụng đại trà cho tất cả cá học sinh, vì thế số trẻ thừ cân có chỉ số ngày càng cao. Đây là một vấn đề cần được nhiều người quan tâm trong xã hội. Bản thân tôi là một giáo viên mầm non lâu năm tôi luôn trăn trở trước thực trạng trẻ em thừa cân béo phì hiện nay và từ đó tìm mọi cách chăm sóc trẻ có một kết quả tốt nhất. Tôi luôn phối hợp các nhóm thực phẩm một cách hợp lý với độ tuổi kết hợp tạo cho trẻ có thói quen tốt trong ăn uống. Có như vậy trẻ mới phát triển toàn diện cân đối giữa chiều cao/cân nặng, cân nặng/tháng tuổi… Chính vì vậy từ việc làm hàng ngày tôi đã tìm ra “Một số biện pháp chăm sóc trẻ thừa cân của lớp mình trong năm học 2007-2008. II. Giải quyết vấn đề. Năm học 2007-2008 tôi được nhà trường phân công dạy các cháu lớp B2 lứa tuổi 24-36 tháng. Khi nhận lớp tôi thấy có một số khó khăn và thuận lợi sau 1. Thuận lợi. - Nhà trường Ban giám hiệu chỉ đạo sát sao, luôn thăm lớp dự giờ đóng góp những ý kiến bổ ích cho từng hoạt động trong ngày đặ biệt là giờ ăng của lớp. Qua đó giáo viên trong lớp đã kịp thời rút kinh nghiệm và khắc phục tồn tại ngay. - Giáo viên Giáo viên trong lớp nhiệt tình có kinh nghiệm lâu năm khi chăm sóc trẻ nhỏ. Hai cô phối hợp nhịp nhàng, năm được tâm lý trẻ từ đó có biện pháp tốt nhất đối với từng trẻ. - Học sinh Số trẻ vừa đủ với diện tích phòng học và số cô trong lớp. Các cháu ngoan có nề nếp đặc biệt là trong giờ ăn. - Cơ sở vật chất Tương đối đầy để phục vụ tốt trẻ trong tất cả các hoạt động. - Phụ huynh Nhiệt tình quan tâm đến các hoạt động chung tại lớp va fluôn lăng nghe những bài tuyên truyền bổ ích của nhà trường và cô giáo. 2. Khó khăn. - Đây học sinh ở lứa tuổi nhỏ nhất trường, để tạo cho trẻ có thói quen tốt là rất khó khăn, mất nhiều thời gian. - Số cháu thừa cân trong lớp tương đối nhiều 4/22 trẻ. - Chế độ ăn của trường không có chế độ riêng cho trẻ thừa cân béo phì. - Quan niệm của phụ huynh còn khác nhau trái ngược nhau. Từ những thực tế trên ttôi đã rút ra được một số biện pháp sau để chăm sóc trẻ thừa cân trong lớp. 3. Một số biện pháp chăm sóc trẻ thừa cân lứa tuổi 24-36 tháng. Tình trạng trẻ em béo phì, thừa cân ngày cang phổ biến, nhất là các cháu trong độ tuổi mầm non, cấp một. Đa số bệnh phát hiện là nhờ các trường có cán bộ y tế sát sao tận tình, có chương trình dinh dưỡng theo dõi sức khoẻ của trẻ em báo động cho cha mẹ. Qua chăm sóc trẻ hàng ngày tôi thấy trẻ có cân nặng nhiều hơn so với độ tuổi là những trẻ rất thích ăn hay tích cực ăn dưới mọi hình thức. Điều này không có nghĩa là ta phải đảm bảo nhu cầu riêng của trẻ. Trái lại với những trẻ này tôi phải giúp trẻ ăn uống điều độ hơn mà vẫn đảm bảo nhu cầu chung về dinh dưỡng, năng lượng mà trẻ vẫn cảm thấy thích. * Biện pháp 1 Giảm năng lượng khẩu phần ăn từng bước một, mõi tuần giảm kkhoảng 300 calo so với khẩu phần ăn trước đó cho đến khi đạt năng lượng tương ứng. Đối với trẻ nhỏ năng lượng calo mồi ngày của trẻ được tương ứng giữa tỷ lệ của các chất như P 10-15%, L 12-13%, G 71-72%. Có nhiều hình thức cho trẻ giảm bớt năng lượng nhưng vẫn đảm bảo cho trẻ được no, khoẻ mạnh và tích cực tham gia các họt động trong ngày đó là việc kết hợp nhiều loại thức ăn trong ngày thay thế cho thực phẩm chính. Ví dụ 1 Theo chế độ nhà trường 9h15’ là được uống sữa, toi đã không báo số trẻthừa cân béo phì cho KT nhà ăn biết và tăng thêm lượng sữa cho trẻ đó ở bữa này Ví dụ 2 Đến giờ ăn bữa chính 10h30 phút tôi lại tiếp tục giảm lượng tinh bột cho trẻ cơm thay vào đó là tăng cường cho trẻ ăn rau củ. Như vậy với lượng sữa trẻ uống thêm và lượng cơm giảm đi tôi thấy lượng calo đã giảm được một phần nhưng sức khoẻ của trẻ vẫn được đảm bảo. Với hình thức này tôi cũng gặp mộy số khó khăn vì thực tế nhữnh trẻ đó rất thích ăn cơm, trẻ muốn ăn thêm nữa nhưng với lời giải thích nhẹ nhàng dần dần trẻ đã hiểu ra và nghe lời cô giáo ăn nhiều rau củ cho má hồng môi xinh, da tráng như thế bé trông lại càng đáng yêu hơn. * Biện pháp 2 Ăn ít chất béo,chất bột. - Năng lượng calo đưa vào cơ thể qua thức ăn, thức uốngđược hấp thu và được oxy hoá để tạo thành nhiệt lượng. - Năng lượng ăn quá nhu cầu sẽ được dự trữ dưới dạng mỡ. chế độ ăn giàu chất béo hoặc đạm, nhiệt độ cao có liên quan chặt chẽ với gia tăng tỷ lệ béo phì. Các thức ăn giàu chất béo thường dễ ăn nên người ta ăn quá thừa mà không biết. vì vậy khẩu phần nhiều mỡ dư số lượng nhỏ cũng có thể gây thừa calo nên chỉ ăn nhiều mỡ thịt mà ăn nhiều chất bột đường, đò ngọt đều có thể gây béo. - Qua khảo sát ta nhận thấy Những trẻ thích ăn chất béo, chất bột luôn tăng cân nhanh hơn so với trẻ khác từ 0,7- 0,8 kg trong một tháng. Nên trong quá trình chăm sóc trẻ thừa cần ta cũng cần chú ý đến những trẻ này qua các hình thức. Kết hợp với nhà bếp khi lựa chọn thực phẩm khônh có mỡ, khi chế biến các món ăn không dùng bằng dầu ăn thì lượng chất béo trong thành phần cũng được giảm bớt đáng kể. - Chất bột ta cũng phải giảm cho trẻ trong quá trình chăm sóc. Ví dụ Trong bữa ăn nên giảmcơmcho trẻ, hạn chế ăn nước thịt, khoai tây và bí ngô v…v… để tăng cường ăn rau và các chất sơ. - Để biện pháp này có kết quả cao tôi thường kết hợp với cha mẹ trẻ và đề cao vai trò của những người mẹ đối với trẻ. Ví dụ Hướng dẫn các mẹ cho con ăn điều độ, khônh cho trẻ uống nhiều nước ngọt. Ăn sáng nhiều hơn là buổi tối. Buổi tối cho các con ăn thức ăn dễ tiêu hơn vì buổi tối các con ít làm việc và vận động hơn. Cần nhất là cha mẹ phải coi lại chế độ ăn uống của con em mình, hạn chế nhưng chất dầu mỡ, chiên sào và năng cho các cháu tập thể dục. * Biện pháp 3 ăn đủ chất đạm, vitamin, muối khoáng. Cần bổ xung viên đa vitamin và vi lượng tổng hợp. Để biện pháp này thự sự có hiệu quả bản thân tôi đã kết hợp tốt với cán bộ y tế để lấy được những chuẩn mực rõ ràng về cách đánh giá trẻ thừa cân béo phì dưới 6 tuổi. Cán bộ cho rằng để có kết quả tốt người ta chủ yếu dựa vào cân nặng so với chiều cao và lớp mỡ dưới da tuy nhiên ở lứa tuổi này lớp mỡ dưới dacủa trẻ chưa ổn định, việc đo lớp mỡ dưới da của trẻ dưới 6 tuổi và trẻ quá béolà thiếu chính xác hơn nữa trẻ thừa cân thường là béo phì. Do đó theo WHO về mặt đánh giá cộng đồng trẻ thừa cân được xem là béo phì độ 1. Từ những kết luận của cán bộ y tế tôi đã yêu cầu họ cung cấp cho một số loại thuốc phù hợp với trẻ để từ đó trẻ có thể bổ sung thêm vitamin, vi lượng tổng hợp mà cân không tăng nhiều, sức khoẻ vẫn đảm bảo tốt. Vai trò của cán bộ y tế rất quan trọng nhưng không kém phần quan trọng đó là vai trò của người mẹ, người cha phải biết tuân thủ theo đúng chỉ định của bác sĩ. Có như vậy việc thực hiện giúp trẻ hạn chế tăng cân cho trẻ mới có hiệu quả cao. *Biện pháp 4 Tăng cường ăn rau và hoa quả. Đúng như vậy rau quả là một loại thức ăn vô cùng quan trọng nó góp phần tăng sức đề kháng cho cơ thể, cung cấp một số vitamin cần thiết giúp cơ thể hấp thu được nhiều loại thức ăn khác nhau. Tuy nhiên để rau quả thực sự có tác dụngcho cơ thể ta cần phải chú ý đến cách chế biến và thời gian ăn các loại quả. Ví dụ 1 Khi ta chế biến các loại rau củ cần phải đảm bảo còn đủ lượng vitamin cần thiết cho đến lúc trẻ ăn. Ví dụ 2 Ta không xào giá đỗ với gan lợn vì sẽ làm mất hết chất tươi của giá và các chất bổ trong gan lợn cũng bị phân huỷ nhiều. - Khi chọn thực phẩm phải tươi ngon, không có chất kích thích, chất xúc tác, rau ngon đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Tất cả các vấn dề trên đều đã được đảm bảo tốt vì Trường mầm non Hoạ Mi nhiều năm nay đạt danh hiệu tổ nuôi xuất sắc và đã ký hợp đồng với công ty cung cấp thực phẩm sạch an toàn có uy tín của thành phố. Ví dụ 3 Khi ăn hoa quả nên ăn trước bữa ăn thì hoa quả có tác dụng trực tiếp trong quá trình tiêu hoá thức ăn sau naỳ của cơ thể. * Biện pháp 5 Bổ sung gia vị cho trẻ như muối, mì chính 6g/ngày nếu trẻ tăng huyết áp chỉ dùng 4g/ngày. Gia vị là nguồn thực phẩm không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn hàng ngày của chúng ta. Một bữa ăn ngon là ta biết kết hợp các loại gia vị vào thức ăn cho phù hợp từ đó sẽ kích thích được các giácquan như khứu giác, vị giác, thị giác… và bữa ăn của ta trở nên hấp dẫn hơn. Nhưng đối với trẻ thừa cân béo phì thì việc sử dụng gia vị lại là cả vấn đề quan trọng. Đa số trẻ thừa cân thường ăn mặn hơn so với những trẻ khác nên khi chế biến thức ăn chỉ nên dừng lại ở mức độ 6gmuối, mì chính / 1 ngày là đủ. Muốn biện pháp này có kết quả tôi đã kết hợp với nhiều đối tượng khác để cùng nhau chăm sóc trẻ. - Kết hợp với tổ nuôi Nấu riêng thức ăn cho những trẻ thừa cân và béo phì. trước khi cho trẻ ăn tôi phải nếm thử thức ăn xem đã đủ đậm, ngọt chưa như thế mới có thể điều chỉnh kịp thời lượng gia vị từ các bữa ăn sau. - Kết hợp với gia đình Để phụ huynh hiểu sâu hơn về vấn đề này tôi thường tư vấn cho cha mẹ trẻ cách nấu ăn như thế nào cho trẻ với những bữa ăn ở nhà để trẻ ăn ngon miệng mà vẫn đảm bảo được mục đích giảm khả năng tăng cân cho trẻ. * Biện pháp 6 Tạo thói quen ăn uống đúng chế độ. Để điều chị và dự phòng trẻ thừa cân béo phì một cách có hiệu quả trước hết cần hiểu rõ do đâu mà trẻ bị mập phì. Hiện tượng thừa cân béo phì xảy ra khi năng lượng hấp thu lớn hơn năng lượng tiêu hao. Một chế độ ăn nhiều năng lượng thường là nhiều chất béo, ít vận độngdễ dẫn đến thừa cân béo phì. Các yếu tố về nội tiết, chuyển hoá và gia đình cũng liên quan đến tình trạng béo phì của trẻ . Để điều chỉnh chế độ ăn uống, bắt các con không phải là chuỵen dễ dàng, đòi hỏi cô giáo phải kiên trì, nhẹ nhàng giảng giải cho trẻ mỗi khi đến giờ ăn . Ngoài ra tôi còn kết hợp với các thành phần khác để cùng nhau chăm sóc trẻ. Điềuđó được thể hiện rất rõ đối với công việc của tôi trong ngày. Tôi đã kết hợp tốt, linh hoạt với cô giáo trong lớp nghiêm túc thực hiện chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ, thực hiện đúng thời gian cho các hoạt động theo quy định có sự giám sát chặt chẽ của ban giám hiệu nhà trường. Có như vậy tôi đã tạo cho trẻ được một thói quen tốt giờ nào việc nấy. Kết hợp với kế toán nhà ăn Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình tôi còn kết hợp với kế toán nhà ăn luôn thay đổi thực đơn theo mùa, theo tuần chẵn, lẻ… có thực đơn riêng cho trẻ thừa cân béo phì. Có như thế thức ăn trong mỗi bữa ăn của trẻ được thay đổi liên tục không bị trùng nhau giúp trẻ ăn ngon, ăn hết xuất và đặc biệt là vẫn đảm bảo được năng lượng cần thiết cho trẻ trong mồi ngày đến trường. Sau đây là 1 số thực đơn mà tôi đã thực hiện có hiệu quả trong quá trình chăm sóc trẻ thừa can béo phì. Thực đơn 109h15’ Sữa 80ml/trẻ. 10h30’ Xào thập cẩm, canh mọc nấu chua thả giá, cơm tám. 15h00’ Phở gà. Thực đơn 209h15’ Sữa 80ml/trẻ. 10h30’ Thịt bò lợn hầm hạt sen, rau củ nấu xương, cơm tám. 15h00’ Cháo thị củ quả. Thực đơn 309h15’ Sữa 80ml/trẻ. 10h30’ Chả cá BASA + thịt, rau cải cúc nấu thịt bò, cơm tám. 15h00’ Xôi + thịt kho tầu. Thực đơn 409h15’ Sữa 80ml/trẻ. 10h30’ Trứng đúc thịt, Bắp cải nấu thịt, cơm tám. 15h00’ Cháo gà. Thực đơn 509h15’ Sữa 80ml/trẻ. 10h30’ Thịt sốt đậu, Canh rau nấu cua, cơm tám. 15h00’ Cháo thập cẩm. Kết hợp với tổ nuôi Chỉ có cô giáo thực hiện tốt thì vẫn chưa đủ mà tôi còn kết hợp với các cô trong tổ nuôi để chế biến thức ăn sao cho đúng giờ là trẻ có cơm ăn đối với lứa tuổi 24-36 tháng giờ uống sữa là 9h15’, ăn trưa 10h30’, ăn chiều là 15h00’. ý kiến của tôi đưa ra được các cô bác trong tổ nuôi nhất trí luôn và tất cả các đồng chí trong tổ phối hợp với nhau rất nhịp nhàng linh hoạt có hiệu quả cao để đảm bảo chung yêu cầu của các cô giáo cũng như yêu cầu của nhà trường. III. kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm. 1. Kết quả thực hiện Qua một thời giandài kiên trì, tận tình kết hợp với một số biện pháp khoa học trên mà tôi đã làm, một phần nào đó đã giảm được tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì trong lớp giảm rõ ràng. Đầu năm lớp tôi có 3 cháu trong diện thừa cân béo phì đến tháng 03/2008 đã không còn cháu nào. Đây là một kết quả đáng mừng cho cô và trò lớp tôi. Điều đáng mừng hơn cả là sức khoẻ của trẻ đã đạt được mức chung của lứa tuổi. Mẹ cháu Phương tâm sự “ Thật cảm ơn các cô giáo, lần đầu tôi cứ nghĩ con mình béo khoẻ thế này là tốt quá rồi chứ đâu có lường trước được một số bệnh do béo phì gây nên. Nay nhờ các cô cháu không những có một thân hình khoẻ đẹp mà cháu còn nhanh nhẹn hơn hứng thú tham gia vào các hoạt động chung với cô, với lớp”. Đây là một thành công lớn của tôi cũng như của các cô giáo trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ. Từ đây trẻ được phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho trẻ. 2. Bài học kinh nghiệm. Việc điều trị béo phì ở trẻ em đòi hỏi có thời gian, kết hợp sự điều chỉnh hợp lý chế độ ăn của trẻ và các hoạt động. Với trẻ dưới 6 tuổi biện pháp chủ yếu là giảm tốc độ tăng cân không phải là làm cho trẻ giảm cân hoặc không tăng cân, bằng cach lựa chọn áp dụng những thực đơn đã được tính toán phù hợp với trẻ. Ngoài ra cần khuyến khích trẻ hoạt động như chạy, nhảy hoạt động, đi bộ hoặc thông qua các trò chơi vận động phù hợp hạn chế các trò chơi ít vận động như xem tivi. Đối với các bậc cha mẹ trước tiên cần phải giáo dục làm thay đổi quan niệm “ béo là khoẻ, phát tướng, …” giúp họ hiểu được nguyên nhân tai hại cánh phòng bệnh boé phì đặc biệt là cacnhs phòng bệnh boé phì ở trẻ em. Hướng dẫn cho mẹ biết cách theo dõi sự tăng trưởng của con mình, và cách cho con ăn uống, hoạt động hợp lý nhằm phòng chống cả suy dinh dưỡng và béo phì ở trẻ em. Đúng như vậy với lương tâm của một nhà giáo tôi luôpn tự nhủ mình dù trong bất cớ hoàn cảnh nào cũng phải đặt nhiệm vụ chăm sóc các cháu lên hàng đầucoi các cháu như con ruột của mình. Vui khi khoẻ buồn khi con đau. Đến nay các cháu lớp tôi rất khoẻ mạnh luôn vượt tỷ lệ chuyên cần của trường đề ra. Phụ huynh yêu quý trường lớp ngày càng cho con đi học đều hơn. Bên cạnh đó qua trao đổi với cô giáo phụ huynh đã biết cách chăm sóc trẻ thừa cân khi ở nhà. Với kinh nghiệm của tôi đã được phụ huynh học tập và nhân rộng ra hơn với các gia đình khác. Đặc biệt các biện pháp này của tôi đã được áp dụng trong 2 năm nay. Rất mong sự góp ý của đồng nghiệp để những kinh nghiệm của tôi ngày một có hiệu quả hơn đó cũng chính là góp phần chăm sóc và giáo dục trẻ trong trường mầm non ở giai đoạn phát triển hiện nay. Tôi xin trân thành cảm ơn! MN Hoạ Mi, Ngày 28 tháng 02 năm 2008
biện pháp chăm sóc trẻ béo phì